phát triển ngành du lịch cho phép
Theo Thứ trưởng, cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, lao động ngành du lịch vượt khó, giảm bớt sự tan rã hệ thống đã được củng cố từ nhiều năm nay; chỉ đạo ban hành các cơ chế, chính sách mới, tạo thuận lợi cho ngành du lịch tiếp tục phát triển hạ tầng du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách quốc tế đến Việt Nam (visa, xét duyệt nhân sự nhập cảnh tại chỗ, tăng thời
Trong thời gian tới, Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp đột phá sau: Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện tốt Luật Du lịch 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Du lịch; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chế độ, chính sách, bảo đảm hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển du lịch.
Nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp du lịch tham dự tọa đàm cũng mong muốn, Chính phủ cần có giải pháp mạnh và đồng bộ hơn nữa (về lưu trú, lữ hành, vận tải quốc tế) để mở cửa du lịch, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế; đặc biệt là phát triển du lịch sẽ kéo theo các ngành nghề khác phục hồi như thương mại, dịch vụ, hàng không…
Xem video Thực trạng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Ðài truyền hình Hà Nội, các chương trình đã phát. Du lịch. Việt Nam; Thế giới; Giấy phép số: Số 220/GP-TTDT, cấp ngày 28-6-2017. Địa chỉ: Số 3-5 Huỳnh Thúc Kháng - Đống Đa - Hà Nội
Là vùng đất trải dài bên bờ sông Tiền, tỉnh Tiền Giang có điều kiện tự nhiên sinh thái thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện; cơ cấu cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng; đồng thời Tiền Giang còn thuộc vùng sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước. Do đó, tỉnh có
Phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường , Nâng cao nhận thức và tham gia bảo vệ môi trường của cộng đồng, Phản ánh kịp thời những thông tin tích cực hay tiêu cực đến công tác bảo vệ môi trường, Môi trường du lịch Việt Nam, Bảo vệ môi trường và tài nguyên du lịch, Phát triển du lịch bền vững
Vay 5s Online. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch VHTTDL vừa ký Quyết định 2292/QĐ-BVHTTDL ban hành Chương trình hành động phát triển du lịch giai đoạn 2021 - 2025, trong đó chú trọng nhiệm vụ chuyển đổi số trong toàn ngành du lịch. Triển khai chương trình hành động phải quyết liệt, chủ động, thực chất và hiệu quảChương trình hành động phát triển du lịch giai đoạn 2021- 2025 nhằm cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng được nêu tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu được nêu tại Nghị quyết số 50/NQ-CP trong lĩnh vực du lịch. Xác định các nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2025 để thực hiện hiệu quả các mục tiêu, định hướng phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025 phù hợp với tình hình thực tiễn. Tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong nhận thức và hành động của toàn ngành du lịch, các ngành liên quan, các địa phương, doanh nghiệp và người dân để tập trung phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, từng bước đưa Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế triển khai Chương trình hành động phải quyết liệt, chủ động, thực chất và hiệu quả; phối hợp chặt chẽ, thường xuyên của các cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình triển khai và căn cứ các nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình hành động, các đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch thực hiện bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trong lĩnh vực du lịchĐối với các nhiệm vụ trọng tâm do Bộ VHTTDL chủ trì, Bộ VHTTDL sẽ thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển du lịch trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và tổ chức sơ kết 05 năm thực dựng Kế hoạch hành động của ngành du lịch triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm VHTTDL cũng trình Chính phủ ban hành Nghị định về mô hình quản lý khu du lịch quốc gia trong năm 2021 và triển khai thực hiện sau khi được ban hành; hướng dẫn địa phương xây dựng quy định về mô hình quản lý khu du lịch cấp tỉnh, điểm du lịch. Hoàn thành lập "Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050" trình Chính phủ phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện Quy dựng Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ an toàn, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, môi trường và dịch bệnh tại các khu, điểm du dựng, ban hành quy định và hướng dẫn áp dụng một số mô hình kinh tế mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế chia sẻ, kinh tế du lịch ban đêm, kinh tế tuần hoàn; tiêu chuẩn, quy định quản lý đối với kinh doanh loại hình du lịch chăm sóc sức khoẻ, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch mạo hiểm và một số loại hình du lịch toàn tổ chức, bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; thống nhất, kiện toàn mô hình tổ chức quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp xúc tiến quảng bá du lịch của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung xuất ban hành chính sách ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp du lịch và hỗ trợ nguồn lực cho người dân tham gia phát triển du lịch cộng đồng, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Xây dựng kế hoạch trung hạn và dài hạn, đảm bảo triển khai có hiệu quả hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch...Điểm đến Phú Quốc, Kiên Giang. Ảnh minh họaỨng dụng khoa học và công nghệ hiện đại, chuyển đổi số toàn ngành du lịchVới nhiệm vụ ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại, công nghệ số, Chương trình yêu cầu phải chú trọng thực hiện chuyển đổi số trong toàn ngành du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030".Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch; thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại và số hóa tài nguyên du lịch Việt Nam; hình thành hệ thống thông tin số về khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở dịch vụ du lịch; xây dựng hệ thống thông tin số về thị trường du lịch Việt Nam; thống nhất công tác thống kê du lịch ở Trung ương và địa dựng và triển khai các đề án, dự án phát triển du lịch thông minh, mô hình quản lý điểm đến du lịch thông minh; ứng dụng công nghệ hiện đại vào phát triển các phần mềm, tiện ích thông minh hỗ trợ công tác quản lý và phục vụ khách du lịch; hỗ trợ doanh nghiệp du lịch kết nối, đổi mới sáng tạo trong hoạt động kinh doanh du cường ứng dụng công nghệ xanh, sạch trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ và cơ sở lưu trú du tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch, Bộ VHTTDL đề xuất Chính phủ ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng giao thông kết nối của một số khu du lịch quốc gia tại các khu vực động lực phát triển du lịch; Các tỉnh/thành phố nằm trong khu vực động lực phát triển du lịch có khu du lịch quốc gia chủ động đề xuất, bố trí nguồn lực đầu tư, đáp ứng yêu cầu phát triển khu du lịch quốc xuất Chính phủ chú trọng đầu tư hạ tầng kết nối giao thông quan trọng như hạ tầng đường bộ ven biển, đường biển; hạ tầng sân bay, kết nối các đường bay quốc tế, giờ bay phù hợp đến các tỉnh phát triển du lịch; đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kết nối giữa các vùng và hạ tầng của một số vùng khó khăn như miền núi phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, tạo thuận lợi cho phát triển du lịch. Đề xuất Chính phủ và các địa phương ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại các địa phương có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch để hình thành các cụm du lịch đồng bộ, chất lượng, có quy mô lớn, đẳng cấp quốc triển các sản phẩm du lịch chủ đạo theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, có thương hiệuTập trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của mỗi địa phương và mỗi vùngVề nhiệm vụ phát triển sản phẩm du lịch và quản lý chất lượng dịch vụ du lịch, Chương trình đề ra mục tiêu phát triển các sản phẩm du lịch chủ đạo theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, có thương hiệu và sức cạnh tranh cao du lịch văn hoá; du lịch sinh thái, du lịch đô thị; du lịch nghỉ dưỡng cao cấp; thí điểm phát triển sản phẩm du lịch tới các đảo xa trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của mỗi địa phương, mỗi vùng, phù hợp với lợi thế tài nguyên du lịch, đảm bảo kết nối với hệ thống sản phẩm du lịch của vùng và quốc gia. Đặc biệt, ưu tiên khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa đặc trưng, nổi trội của mỗi địa phương, ưu tiên công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá, lịch sử, truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững; chú trọng khai thác thế mạnh ẩm thực đa dạng, đặc sắc của từng địa phương, từng vùng để hình thành sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, có lợi thế cạnh tranh, góp phần tạo dựng thương hiệu nổi bật của từng địa phương, từng trợ phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn; du lịch công nghiệp; du lịch chăm sóc sức khoẻ; du lịch cộng đồng gắn với các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc; phát triển sản phẩm, dịch vụ du lịch về đêm tại các đô thị, trung tâm du lịch, các khu du lịch, điểm du lịch đông khách du lịch; phát triển các loại hình du lịch thể thao có tiềm năng, thế mạnh phát triển tại Việt khích phát triển du lịch theo mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn tại các khu du lịch, điểm du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm chất lượng dịch vụ du lịch tại các khu du lịch, điểm du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du hỗ trợ doanh nghiệp du lịch phục hồi, phát triển trong bối cảnh tác động của đại dịch COVID-19, Bộ VHTTDL đề xuất ban hành và triển khai kịp thời các giải pháp về cơ chế, chính sách tài chính, tín dụng hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế, cho vay ưu đãi, giãn nợ, khoanh nợ…, chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nhân lực để hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng, người dân tham gia kinh doanh du lịch duy trì hoạt động, vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch. Hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng và người dân tham gia kinh doanh du lịch đổi mới mô hình kinh doanh, phát triển sản phẩm mới, xúc tiến quảng bá du lịch, phục hồi và phát triển thị trường du lịch. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực du lịch; đề xuất giảm phí, lệ phí các thủ tục, giảm tiền ký quỹ kinh doanh đối với các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thị trường lao động du lịch bền vững, Bộ VHTTDL xây dựng, triển khai Chương trình điều tra, đánh giá tổng thể nguồn nhân lực du lịch Việt Nam và Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao của Việt Nam đến năm 2025. Chú trọng nâng cao chất lượng nhân lực du lịch của các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ. Xây dựng, triển khai Chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho lực lượng lao động nghề du lịch. Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ nhân lực tham mưu quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương, nhân lực quản trị doanh nghiệp du lịch. Quan tâm giữ lực lượng lao động du lịch chuyên nghiệp, bổ sung, đào tạo nguồn nhân lực du lịch bị thiếu hụt lớn và chất lượng giảm do ảnh hưởng của đại dịch trung phát triển mạnh thị trường du lịch nội địaVề phát triển thị trường, tăng cường xúc tiến, quảng bá và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về du lịch, Bộ VHTTDL sẽ tập trung phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa; nghiên cứu kinh nghiệm các nước về áp dụng mô hình bong bóng du lịch, hộ chiếu vắc xin, đề xuất thiết lập cơ chế hợp tác trao đổi khách quốc tế với các quốc gia kiểm soát tốt dịch bệnh để dần phục hồi và phát triển thị trường khách quốc tế. Xây dựng Chiến lược marketing du lịch Việt Nam đến năm 2030; triển khai các chiến dịch xúc tiến, quảng bá du lịch tại các thị trường trọng điểm phù hợp với xu hướng mới của thị trường. Đa dạng hóa các phương thức, công cụ xúc tiến quảng bá, chú trọng triển khai các hoạt động e-marketing. Hỗ trợ các địa phương tiếp cận đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch trên các kênh truyền thông quốc tế. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các cam kết, ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác quốc tế về du lịch; tận dụng lợi thế các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam là thành viên để phát triển du lịch. Tập trung triển khai các hoạt động hợp tác phát triển du lịch trong ASEAN về quản lý du lịch an toàn, hỗ trợ phục hồi du lịch trong tình hình mới; triển khai các dự án hợp tác phát triển du lịch và tranh thủ khai thác các nguồn lực quốc tế để phát triển du trình cũng đề ra một số nhiệm vụ phối hợp thực hiện với các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.../.
LỜI MỞ ĐẦUNgày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu cầu đầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thoả mãn về tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành có du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành “công nghiệp không có ống khói”, mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới. Nhận thức được điều này, Đảng và nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế nghiên cứu về du lịch trở nên cấp thiết, nó giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về du lịch. Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lí luận và thực tiễn. Nó giúp du lịch Việt Nam đạt được những thành tựu mới, khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với tiềm năng của đất nước, nhanh chóng hội nhập với du lịch khu vực và thảo luận của nhóm em đề cập đến những nhận thức cơ bản về "Thực trạng, thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển du lịch ở Việt Nam". Do sự hạn chế về kiến thức và thời gian nên không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của cô IKHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA DU LỊCH VIỆT NAM Khái quát về sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam trước khi hội nhập Lịch sử hình thành ngành du lịch Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5/6/1951. Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi du lịch trong nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958. Năm 1961 Nha Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương"với ba chí điểm Nha Trang, Đà Lạt và Vũng Tàu. Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố nâng đỡ kỹ nghệ du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974. Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09/7/1960. Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam. Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch. Ngày 25/12/2002 Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam. Quá trình phát triển ngành du lịch trước khi gia nhập WTO Từ năm 1960 đến 1975 Du lịch Việt Nam hoạt động chủ yếu là đón tiếp các đoàn khách của Đảng và Nhà nước phục vụ cho quan hệ hợp tác quốc tế, góp phần đấu tranh giải phóng miền Nam và xây dựng đất nước. Từ năm 1975 đến 1990 Ngành Du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn và phát triển các cơ sở Du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng; lần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở, thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu. Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Du lịch .Trong giai đoạn này, du lịch đã góp phần tích cực tuyên truyền giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới và tổ chức cho nhân dân đi du lịch giao lưu hai miền Nam - Bắc, thiết thực góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc. Ngành Du lịch đã phát triển thêm một bước, hoạt động có kết quả tốt, đặt nền móng cho ngành Du lịch bước vào giai đoạn mới. Giai đoạn từ 1990 đến nay Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành Du lịch đã khởi sắc, vươn lên đôi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình. Năm 2001 đến 2007, tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do năng động, cố gắng vượt khó, chủ động áp dụng các biện pháp tháo gỡ táo bạo, kịp thời, nên lượng khách và thu nhập hàng năm vẫn tăng trưởng 2 con số. • Dưới đây là số liệu thống kê về một số chỉ tiêu trong du lịch trong giai đoạn từ 1990 đến 2006* Năm 1990 cả nước chỉ có 350 cơ sở lưu trú du lịch với buồng, thu nhập xã hội từ du lịch mới đạt tỷ đồng, chỉ đón hơn lượt khách quốc tế, cả khách quốc tế và nội địa là *Giai đoạn từ 1995 đến 2003 lượng khách quốc tế đến Việt Nam du lịch tăng từ lên lượt khách. * N ăm 2004 Trong tháng 12 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng lượt người. Cả năm 2004, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt lượt người, tăng 20,5% so năm 2003. * Năm 2005 Trong tháng 12/2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Trong cả năm 2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt lượt, tăng 18,4% so với năm 2004. * Năm 2006 Trong tháng 12/2006 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Tổng cộng trong 12 tháng lượng khách quốc tế ước đạt lượt, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2005. Lượng khách du lịch bao gồm của khách quốc tế và nội địa tăng không ngừng từ khách quốc tế năm 1990 lên hơn 3,58 triệu lượt khách vào năm 2006. Thu nhập từ du lịch năm 1990 đạt 13 ngàn tỷ đồng, đến năm 2006, thu nhập từ du lịch đạt 51 nghìn tỷ đồng.• Khẩu hiệu ngành du lịch2001-2004 Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới2004-2005 Hãy đến với Việt Nam2006 - nay Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm Sự phát triển du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều lĩnh vực kinh tế khác và những thuận lợi khi Việt Nam gia nhập WTO thì ngành du lịch Việt nam đã khởi sắc và ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Số doanh nghiệp du lịch tăng đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đã phát huy được hiệu quả tích cực góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch.• Sự phát triển đó được thể hiện dựa trên các số liệu về lượng du khách, doanh thu và các hoạt động về du lịch mà Việt Nam đã tổ chức được.*Năm 2007 Nước ta lần đầu tiên đạt 4,23 triệu lượt khách quốc tế. GDP du lịch chiếm khoảng 4% GDP cả nước theo cách tính của WTO thì con số này là 9%. Trong tháng 12/2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Tổng cộng trong cả năm lượng khách quốc tế ước đạt lượt, tăng 16,0% so với năm 2006. Du lịc nước Ta trong năm này đã có 10 sự kiện tiêu biểu• Thành công của Năm du lịch quốc gia "Về thủ đô gió ngàn - Chiến khu Việt Bắc"• Ngành du lịch đón vị khách quốc tế thứ 4 triệu• Quảng bá du lịch Việt Nam trên kênh truyền hình quốc tế CNN• Tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch VN - Lào - Campuchia và Hội chợ Du lịch chủ đề "3 quốc gia, 1 điểm đến"• Chương trình vận động bầu chọn cho vịnh Hạ Long• Khảo sát xây dựng sản phẩm, các tour du lịch mới• Festival hoa Đà Lạt thành công• Bùng nổ các dự án đầu tư FDI vào du lịch• Mười năm hoạt động của trang web ngành• Khách du lịch đến miền Trung tăng trưởng cao.* Năm 2008Trong tháng 12/2008 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Tổng cộng trong cả năm 2008 lượng khách quốc tế ước đạt lượt, tăng 0,6% so với năm sự kiện tiêu biểu năm 2008 là • Năm du lịch miệt vườn Sự kiện chủ đạo, xuyên suốt về du lịch năm 2008 là Du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long. Đến với Cần Thơ, du khách thăm vùng châu thổ trù phú, sông rạch chằng chịt với hệ sinh thái đa dạng, những di tích văn hóa phong phú của cộng đồng dân tộc Hoa, Khmer, Chăm. • Du lịch về cội nguồn Đây là năm thứ tư, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai phối hợp tổ chức du lịch về cội nguồn, quảng bá các sự kiện văn hóa du lịch độc đáo của vùng. • Festival Huế 2008• Bầu chọn Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới. • Bắn pháo hoa quốc tế dọc hai bên bờ sông Hàn vào thời điểm TP Đà Nẵng tổ chức các lễ hội như Liên hoan Văn hóa Du lịch biển, lễ hội "Gặp gỡ Bà Nà"... • Thi hoa hậu du lịch 2008• Hoa hậu Hoàn vũ quốc tế tại thành phố Nha • Diễn đàn du lịch các nước ASEAN và TRAVEX 2009 Đây là sự kiện thường niên về du lịch có uy tín và quy mô lớn nhất trong khu vực. *Năm 2009 Trong tháng 12, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 376,400 lượt. Tính chung cả năm 2009, lượng khách quốc tế ước đạt lượt, giảm 10,9% so với năm hoạt động du lịch tiêu biểu năm 2009 là• Diễn đàn Du lịch ASEAN 2009 ATF-09. Chương trình kích cầu du lịch "Ấn tượng Việt Nam". • 10. Vịnh Hạ Long vào vòng chung kết Cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Vịnh Lăng Cô Thừa Thiên - Huế được công nhận và xếp hạng vịnh đẹp thế giới.• Năm Du lịch Tây Nguyên với chương trình Lễ hội Festival hoa Đà Lạt năm 2009.• Lễ hội cồng chiêng Gia Lai• Lễ hội cà phê Đắc Lắc lần thứ 2• Lễ hội Rượu trắng Đắk Nông; Cuộc thi pháo hoa Quốc tế tại Đà Nẵng• Lễ hội biển Nha Trang• Những ngày văn hóa du lịch Mê Công - Nhật Bản ở Cần Thơ• Đại hội Thể thao trong nhà châu Á lần thứ 3• Hội chợ thực phẩm và khách sạn TP Hồ Chí Minh• Chương trình "3 nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia - một điểm đến" tại TP Hồ Chí Minh.* Tính đến tháng 8/ 2010 Lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung 8 tháng năm 2010 ước đạt lượt, tăng 35,2% so với cùng kỳ năm 2009.• Năm 2010 cũng diễn ra nhiều sự kiện quan trọng Sự kiện "Năm Hà Nội", Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội• Festival Huế• Cuộc thi Hoa hậu Thế giới tại Nha Trang• Liên hoan phim quốc tế• Liên hoan múa rối và xiếc quốc tế Thu nhập từ du lịch năm 1990 đạt 13 ngàn tỷ đồng, đến năm 2009, thu nhập từ du lịch tăng từ 6,5 đến 9% so với năm 2008, đạt từ đến tỉ đồng. Tổng cục Du lịch dự kiến, trong năm 2010, ngành du lịch cả nước sẽ đón khoảng từ 4,5 đến 4,6 triệu lượt khách quốc tế, tăng từ 18 đến 21% so với năm 2009; Lượng khách nội địa trong năm 2010 sẽ đạt khoảng 28 triệu lượt khách. Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ngày càng phát triển và đa dạng các loại hình. Đến nay, cả nước có cơ sở lưu trú du lịch với tổng số buồng, tăng 25 lần so với năm 1990 với tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,6%/năm trong khi đó trên phạm vi toàn thế giới tốc độ tăng cơ sở lưu trú du lịch bình quân 3% . Cùng với sự phát triển về số lượng, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việt đã có những chuyển biến mạnh về chất lượng. Đến nay, cả nước đã có tổng số cơ sở lưu trú du lịch được xếp từ hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh LTDL đến hạng 5 sao, cụ thể 25 khách sạn 5 sao với buồng, 69 khách sạn 4 sao với buồng, 144 khách sạn 3 sao với buồng, 590 khách sạn 2 sao với buồng, 632 khách sạn 1 sao với buồng và khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với buồng Toàn ngành du lịch hiện có lao động trực tiếp trong đó lao động làm việc trong trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch là IINHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DU LỊCH VIỆT NAM HỘI NHẬP THẾ Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạngViệt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, vừa có biên giới lục địa, vừa có hải giới rộng lớn, là cửa ngõ đi ra Thái Bình Dương của một số nước và của vùng Đông Nam Á. Nước ta nằm ở vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, đúng vào khu vực gió mùa Đông Nam Á, do đó, mang lại đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Châu Á. Nhờ đó mà Việt Nam có hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng. Việt Nam còn có những danh thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bảng ngoài ra còn có di sản văn hoá thế giới phi vật thể là nhã nhạc Huế. Chúng ta còn thu hút du khách nước ngoài bằng hàng loạt các điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền tổ quốc Bản Gốc, Mẫu Sơn, Sa Pa, Thác Mơ, hồ Ba Bể, vườn quốc gia Ba Vì, Mai Châu, Tam Cốc- Bích Động, Cát Tiên, khu ngập nước Văn Long, Bà Nà, Đồng Tháp Mười, địa đạo Củ Chi, U Minh… Hiện nay, du lịch sinh thái đang được nhiều du khách quan tâm nên đây là điều kiện tốt để du lịch Việt Nam khai thác tiềm năng sẵn có. Mặt khác lãnh thổ nước ta kéo dài từ Bắc vào Nam tiếp giáp với biển cũng tạo cho chúng ta những bãi biển cát mịn và đẹp như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu…Ngoài những thắnh cảnh tươi đẹp, Việt Nam còn có rất nhiều các làng nghề, lễ hội truyên thống. Tiềm năng phát triển du lịch làng nghề truyền thống của nước ta rất lớn, mỗi làng nghề gắn với một vùng văn hoá, hệ thống di tích và truyền thống riêng, với cung cách sáng tạo sản phẩm riêng của mình. Du khảo hết các làng nghề truyền thống, du khách có thể thấy rõ bản sắc cũng như đặc trưng của bộ mặt nông thôn Việt Nam. Hiện nay, cả nước đã có hơn2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm nghề chính như cói, sơn mài, mây tre đan, gốm sứ, thêu ren, dệt, gỗ, đá, giấy, tranh dân gian. Đi dọc Việt Nam du khách có thể thấy nhiều vùng quê mà mật độ làng nghề truyền thống dày đặc rải từ bắc vào nam. Những cái nôi của làng nghề là Hà Nôi, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế… Thực tế, hiện nay du khách muốn đến tận làng nghề nhìn cảnh cây đa, bến nước, sân đình, thăm các di tích của một làng nghề truyền thống Việt Nam, tìm hiểu các vị tổ làng nghề hoặc các danh nhân văn hoá. Làng nghề truyền thống Việt Nam chứa đựng tiềmnăng dồi dào về du lịch còn bởi vì du khách muốn đến tận nơi xem các công đoạn nghệ nhân làm ra sản phẩm và cũng muốn tận tay tham gia làm sản phẩm theo trí tưởng tượng của riêng mình. Tìm hiểu về văn hoá và truyền thống làng nghề là điều mà du khách trong và ngoài nước quan Nam còn có các tài nguyên có giá trị lịch sử, các tài nguyên có giá trị văn hoá thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Với lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tạo dựng được một nền văn hoá phong phú và độc đáo. Không những vậy 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên một mảnh đất, lại có bao phong tục, tập quán, lễ hội khác nhau tạo nên sự đa dạng cho sản phẩm du lịch Việt những năm gần đây, Việt Nam đã và đang xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ. Đặc biệt con người Việt Nam thân thiện, hiếu khách đã tạo sự thoải mái cho tất cả những tiềm năng trên là một nền tảng để du lịch Việt Nam phát triển, hội nhập với các nước trên thế giới. Nhưng vấn đề là chúng ta tận dụng những tiềm năng đó như thế nào nó phụ thuộc vào cách làm của chúng Chính sách khuyến khích phát triển du lịch của Nhà nước Những năm gần đây du lịch đã được nhà nước chú trọng phát triển bởi tiềm năng lợi ích mà du lich mang lại là rất Giao thông thuận tiện giúp du khách thuận tiện đi lại và giảm chi phí đi lại, nhiều công trình như đường hầm, cáp treo .. được xây Các di tích, di sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển được tôn tạo, bảo tồn và phát Nhiều khu vui chơi, giải trí được xây dựng tại các địa điểm du lich hấp Có chính sách phát triển du lịch cho từng địa Tổ chức các sự kiện , các chương trình lớn kích cầu về du lịch. - Mở trường , mở khoa đào tạo về khách sạn du Tạo dựng hình ảnh , quảng bá văn hóa , thắng cảnh của Việt Nam ra thế giới nhằm thu hút khách quốc Thị trường du lịch ngày càng được mở rộng Đời sống của nhân dân hiện nay ngày càng được nâng cao vì thế nhu cầu về du lịch ngày càng nhiều, hơn thế nhận thức của người dân cũng cao hơn, mong muốn có sức khỏe tốt, muốn khám phá thế giới, vui chơi giải trí. Cuộc sống thành thị ồn ào, ngột ngạt, căng thẳng cũng khiến con người ta có nhu cầu tìm đến những nơi trong lành, thoải mái, yên tĩnh... Việc quảng bá hình ảnh Việt Nam cũng tạo thuận lợi cho việc chúng ta khai thác thị trường ngoài nước góp phần tăng nguồn ngoại tệ và phát triển thương hiệu du lich Việt Nam. Các loại hình du lịch ngày càng đa dạng hóa và phát triển trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng với những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng. Bên cạnh đó, lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của cha ông đã để lại cho chúng ta những di tích lịch sử- văn hóa quý giá. Bởi vậy loại hình du lịch đã và đang phát triển đầu tiên phải kể đến là* Tham quan di tích - thắng cảnh như Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, đền Ngọc Sơn, và hồ Hoàn Kiếm, chùa Trấn Quốc và Hồ Tây…* Du lịch lễ hội Festival Huế, hội chùa Hương, hội Lim…Du lịch phố cổ Hội An, Hà Nội, phố Hiến - Hưng Yên…* Du lịch sinh thái Nhà vườn Huế, bãi biển Lăng Cô, rừng Cúc Phương, hồ Ba Bể…* Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh tắm nước khoáng Kim Bôi - Hòa Bình, nhà nghỉ ở Phan Thiết, Nha Trang, châm cứu ở Hà Nội…* Du lịch MICE, tức là loại hình du lịch theo dạng gặp gỡ xúc tiến, hội nghị, hội thảo, du lịch chuyên đề ở Vũng Tàu, Đà Nắng…* Du lịch dựa vào cộng đồng vì người nghèo nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo như ở Hà Nội, Lào Cai, Sa Pa…* Du lịch hoa ở Đà Lạt, Hà Nội, TPHCM…* Tham quan các trại điêu khắc ở Huế, Đà Nẵng, Phú Thọ…* Du lịch bụi bằng xe đạp, xe máy, ô tô buýt, xích lô ở Hà Nội, xe trâu ở làng gốm Bát Tràng, cưỡi ngựa ở Lâm Đồng, cưỡi voi ở Tây Nguyên, du thuyền trên sông Hồng, sông Cửu Long…* Du lịch cuối tuần ở TPHCM, Hà Tây, Vũng Tàu…* Du lịch tuần trăng mật ở Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo…* Du lịch tham quan các bảo tàng ở các thành phố lớn. * Du lịch làng nghề gốm Bát Tràng, tơ lụa Vạn Phúc - Hà Đông…* Du lịch mua sắm bắt đầu phát triển ở TPHCM, Hà Nội, Huế…* Du lịch ẩm thực tiệc cung đình Huế hay ẩm thực Hà Nội. * Du lịch mạo hiểm lặn biển ở Nha Trang, leo núi Tây Bắc, xuyên rừng Cúc Phương…* Du lịch thể thao dù lượn ở Nha Trang, Tuần Châu, sân gôn Đồng Mô…Với sự đa dạng về loại hình du lịch ngành du lịch Việt Nam đã phát triển vượt bậc cũng có nghĩa đã đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu du lịch của khách trong nước cũng như khách quốc KHÓ KHĂN Khó khăn trong quy hoạch Được coi là điểm sáng của năm 2005 tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức cao trên 20%, thu hút hơn 3,4 triệu khách quốc tế và 16 triệu khách nội địa. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam vẫn còn nhỏ bé.“Hiện chúng ta đang thiếu các điểm du lịch quy mô, “ra tấm ra miếng”. Thực trạng đầu tư manh mún, nhỏ lẻ, chạy theo số lượng mà không chú ý đến tính chuyên nghiệp” - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Phạm Từ thừa nhận, “một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do qui hoạch du lịch tổng thể, chi tiết từng vùng chưa được thực hiện tốt”.Vấn đề đặt ra là nêu chúng ta không có biện pháp quy hoạch ngay thì liệu một thời gian nữa còn có chỗ mà quy hoạch không và du lịch có thật sự được phát triển . Khủng hoảng kinh tế, kinh tế suy thoái, dịch bệnh, thiên 2009, khủng hoảng kinh tế toàn cầu điều đó ảnh hưởng rấ lớn tới các nước lớn, chi tiêu của người dân hạn hẹp vì thế mà lượng khách nước ngoài đến Việt Nam giảm sút, khách du lịch trong nước cũng theo đà giảm theo. Điều đó khẳng định tình hình kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của du lịch Hơn thế nữa, cùng với sự nóng lên của trái đất làm cho dịch bệnh và thiên tai hoành hành ở nhiều nơi không những làm hư hại tài nguyên du lịch mà còn hạn chế lượng khách du lịch tơi các nơi thiên tai, dịch bệnh do e ngại về sự an toàn và sức khỏe của họ. Ý thức người dân và việc bảo vệ môi trường Hiện nay có một tình trạng là khách du lịch đi đến các điểm du lịch xả rác bừa bãi gây mất cảnh quan và ô nhiễm môi trường, trước tình hình đó ngành du lịch phải có biện pháp cụ thể để ngăn chặn nếu không sẽ để lại hình ảnh xấu trong mắt khách du lịch quốc tế và ảnh hưởng tới môi trường sống .- Vấn đề nữa là người dân chưa có ý thức bảo vệ tại nguyên du lịch, chưa nhận biết tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên du lịch, khiến việc tu sửa, bảo tồn, phát triển gặp khó khăn. Tài nguyên và môi trường đang có sự suy giảm do khai thác, sử dụng thiếu hợp lý và những tác động của thiên thai ngày càng tăng và diễn ra ở nhiều vùng, nhiều địa phương trong Nhiều tài nguyên có tiềm năng khai thác nhưng do bị mai một, lãng quên, và bị hủy hoại nên vẫn bỏ Nhân lực cho ngành du lịch chưa đạt yêu cầuViệc gia tăng lượng khách du lich hàng năm là một dấu hiệu đáng mừng, nhưng cũng không đủ cầu và cung như thế nào để thỏa mãn nhu cầu của cầu là một vấn đề đặt ra cho ngành du lịch, bởi đội ngũ nhân lực cho ngành du lịch còn đang thiếu và yếu về chuyên môn, yếu về ngoại ngữ. Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đào tạo được đội ngũ nhân viên du lịch lái xe, tiếp viên, hướng dẫn viên… có nghiệp vụ, có văn hoá, biết ngoại ngữ đủ để đáp ứng yêu cầu của thị trường đang ngày càng tăng. Hoạt động du lịch ngày càng đa dạng hoá về sản phẩm du lịch, loại hình du lịch và chất lượng các sản phẩm du lịch. Điều này đòi hỏi đội ngũ lao động phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ. Những người làm công tác quản lý trong ngành du lịch có trình độ không đồng đều, một số chưa qua đào tạo về quản lý doanh nghiệp du lịch. Tuy tiềm năng du lịch rất lớn nhưng hệ thống cơ sở đào tạo du lịch còn quá ít. Trong khi nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu thì sự sắp xếp bộ máy cán bộ không hợp lý, rườm rà gây ra lãng phí rất nhiều nhân lực. Do đó, kiện toàn sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là một đòi hỏi cần phải giải quyết ngay. Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo mới ở các trường và đào tạo lại, bồi dưỡng ở các cơ quan, doanh nghiệp, mặc dù đã được đầu tư xây dựng, trang bị mới và nâng cấp nhưng vẫn thiếu, không đồng bộ, nhất là ở các cơ sở đào tạo mới tham gia vào đào tạo du lịch. Đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch hạn chế về số lượng, chất lượng. Đặc biệt, thiếu giáo viên tay nghề cao. Số giảng viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ không nhiều. Phương pháp đào tạo nặng về lý thuyết, độc thoại. Lực lượng giáo viên cơ hữu mỏng và rất khác nhau giữa các trường. Các trường ngoài công lập và trường mới thành lập có mở ngành du lịch tỷ lệ giáo viên cơ hữu rất thấp, thường dưới 50% . Công tác marketing chưa được triển khai toàn diện Hoạt động Marketing cho ngành du lịch bao gồm rất nhiều hoạt động từ xúc tiến quảng cáo ở nước ngoài cho tới thu thập thông tin về các thị trường và khách hàng tiềm năng và hiện tại, thúc đẩy từng loại hình và dịch vụ du lịch. Chúng ta chưa đầu tư đầy đủ vào hoạt động marketing giới thiệu về Việt Nam như một điểm đến của du lịch ở nước ngoài và vẫn chưa có được một chiến lược để khai thác tối đa tiềm năng du lịch của Việt Nam. Mặc dù có các chương trình khuyếch chương ở trong nước nhưng các chương trình này không giúp thu hút được được khách du lịch mới đến Việt nam vì chúng hướng vào những khách du lịch đang ở Việt Nam rồi. Hơn nữa, hoạt động xúc tiến quảng cáo ở Việt Nam
Tiến trình phục hồi của du lịch Việt Nam đang lạc nhịp so với thế giới. Trong khi thế giới đã tăng 31% so với năm 2020 thì du lịch Việt đang tiếp tục rơi.’ Vì thế, vấn đề đặt ra là phải phục hồi ngay nền kinh tế xanh Việt Nam và tốc độ nhanh hơn so với các nước để không tụt hậu. Đó là khẳng định của chuyên gia cao cấp Võ Trí Thành, Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương tại tọa đàm bàn tròn trong khuôn khổ Hội thảo Du lịch 2021 với chủ đề “Du lịch Việt Nam-Phục hồi và phát triển,” vừa diễn ra hôm nay ngày 25/12, tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Vậy giải pháp nào để du lịch Việt Nam không lạc nhịp’ với thế giới? Du lịch Việt đang “rơi thẳng đứng” Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Đoàn Văn Việt Khái quát bức tranh toàn cảnh ngành du lịch Việt thời gian qua Trong suốt 4 đợt bùng phát của dịch COVID-19, các hoạt động du lịch quốc tế đóng cửa hoàn toàn, khách nước ngoài chủ yếu là các chuyên gia, khách công vụ. Du lịch nội địa hoạt động phụ thuộc vào chu kỳ bùng phát dịch và hết sức cầm chừng. Năm 2021, đợt dịch thứ 4 bùng phát mạnh mẽ trên cả nước khiến các hoạt động kinh tế, xã hội đình trệ nhiều tháng. Mới đây, du lịch quốc tế bắt đầu mở cửa, khách du lịch nội địa tiếp tục giảm gần 30% so với cùng kỳ 2020. [Du lịch Việt sẽ phục hồi, phát triển trong bối cảnh mới ra sao?] Đáng nói, các quy định giãn cách phòng chống dịch, đóng cửa các điểm tham quan và dừng hầu hết các loại hình cung ứng khiến chuỗi dịch vụ đứt gãy nghiêm trọng. Năm 2020, có 338/ doanh nghiệp lữ hành quốc tế xin thu hồi giấy phép, 90% doanh nghiệp đóng cửa. Toàn cảnh hội thảo vừa diễn ra hôm nay tại Nghệ An. Ảnh TCDL Năm 2021, lượng doanh nghiệp lữ hành xin thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành chiếm trên 35% tổng số đã được cấp phép, phần còn lại dừng hoạt động. Lĩnh vực lưu trú chiếm 46% trong cơ cấu tổng thu của ngành du lịch Việt Nam cũng buộc phải đóng cửa khoảng 90% và hầu như không có khách, trừ các cơ sở đón khách cách ly. Hầu hết cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, các điểm tham quan, di tích, khu vui chơi giải trí... bị thiệt hại lớn khi không có khách và đến nay vẫn chưa hoàn toàn mở cửa trở lại. Những “con số biết nói” nếu trên cho thấy du lịch Việt đang “rơi thẳng đứng” từ đỉnh cao và tiếp tục “rơi” trong năm 2021. Nguyên phó viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương, ông Võ Trí Thành đặt câu hỏi với các đại biểu “Các anh, chị đau đáu, trăn trở nhất với điều gì trước vận mệnh của ngành du lịch?” Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Hà Văn Siêu cho rằng cần phải tập trung vào ba yếu tố “An toàn, mở, đồng bộ.” An toàn cho người dân, tạo niềm tin cho khách “xê dịch” trở lại. Không có gì tốt cho doanh nghiệp du lịch lúc này bằng việc mở cho doanh nghiệp hoạt động. Muốn vậy cần sự tham gia đồng bộ của ngành y tế và các ngành liên quan với du lịch. Đơn cử như hàng không phải được bay thường lệ, cửa khẩu phải mở. Ngành ngoại giao và hàng không cần liên minh với ngành du lịch. Theo ông Siêu, không nên “cách ly” mà theo dõi sức khỏe của khách và xây dựng các phương án xử lý phù hợp. Đoàn khách quốc tế đầu tiên trở lại Phú Quốc. Ảnh CTV/Vietnam+ “Du lịch chỉ phục hồi khi mang thị trường cho doanh nghiệp, mang khách đến cho điểm đến. Muốn mở phải đồng bộ. Giữa các địa phương phải mở liên thông, không thể cát cứ, nơi làm thế này, nơi làm thế kia. Giữa các bộ, ngành như y tế, giao thông, ngoại giao, công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải quy định thông suốt, nhất quán,” ông Siêu nhấn mạnh. Trước câu hỏi của ông Võ Chí Thành, Chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam, bà Nguyễn Thị Cúc khẳng định thuế chính là nguồn lực để phát triển. Bà Cúc nêu ví dụ về thuế đất, Chính phủ đã có Quyết định 27 giảm tiền thuế đất trong năm 2021. “Các doanh nghiệp đang kiến nghị tiếp tục giảm đến năm 2023 và chúng tôi rất đồng thuận. Bên cạnh đó, diện tích xây dựng dành cho du lịch hiện chỉ có 25% nhưng tiền thuê đất, kể cả đất để trống lại như nhau nên chúng tôi cũng đồng tình việc cần phân định rõ đất dành cho xây dựng, đất lưu không,” bà Cúc nói. Trong khi đó, liên quan đến thuế giá trị gia tăng, bà Cúc phân tích khó khăn như vậy nhưng doanh nghiệp chỉ được giảm 2 tháng thì không phù hợp, đề nghị giảm đến hết năm 2023. Bởi thực tế, việc giảm thuế sẽ góp phần lớn vào hỗ trợ giảm giá bán, giá thành sản phẩ... Bên cạnh đó, cần hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách quốc tế đến Việt Nam dễ dàng nhất tại điểm mua hàng đã được cơ quan chức năng cho phép. Từ đó, kích thích tiêu dùng của khách du lịch ở Việt Nam. “Hiện chúng ta đã giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng chúng tôi đề xuất đưa du lịch vào danh mục ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo cú hích cho ngành du lịch đồng thời miễn luôn thuế của phí phục vụ cho ngành du lịch. Các loại phí khác cũng nên xem xét lại cho doanh nghiệp du lịch phát triển,” bà Cúc đề xuất. Đảm bảo phòng dịch cho khách quốc tế trở lại Việt Nam. Ảnh CTV/Vietnam+ Giải pháp nào trong bối cảnh mới? Theo Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Hà Văn Siêu, cần tập trung cơ cấu lại theo xu hướng mới, doanh nghiệp tái đầu tư, chính quyền hỗ trợ cơ cấu lại. Điểm đến phải “sạch,” phải thiên nhiên, phải “khỏe” để đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người dân; sản phẩm đa dạng, trải nghiệm sâu, không đe dọa bởi sự đại trà, đông đúc. Bên cạnh đó, cần khai thác yếu tố văn hóa trong du lịch, đầu tư cho văn hóa để kích thích du lịch. Ngoài ra, khai thác kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn. Đặc biệt, để du lịch Việt Nam vượt “đỉnh đáy” khó khăn, từng bước phục hồi và tiếp tục phát triển trong bối cảnh mới, Thứ trưởng Đoàn Văn Việt đề xuất một số giải pháp. Trong đó, kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo tập trung thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển du lịch trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội năm 2022- 2023, tạo đà cho nền kinh tế xanh phục hồi và đóng góp ngày càng hiệu quả cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Theo Thứ trưởng, cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, lao động ngành du lịch vượt khó, giảm bớt sự tan rã hệ thống đã được củng cố từ nhiều năm nay; chỉ đạo ban hành các cơ chế, chính sách mới, tạo thuận lợi cho ngành du lịch tiếp tục phát triển hạ tầng du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách quốc tế đến Việt Nam visa, xét duyệt nhân sự nhập cảnh tại chỗ, tăng thời gian miễn thị thực...; cho phép thành lập văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài. Đồng tính với ý kiến của ông Hà Văn Siêu, ông Đoàn Văn Việt khẳng định cần đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển các sản phẩm du lịch ban đêm, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe, du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, du lịch trải nghiệm cộng đồng hướng tới phát triển bền vững...; Vinpearl Safari Phú Quốc. Ảnh CTV/Vietnam+ Ngoài ra, trong bối cảnh mới, cần đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển công nghệ liên quan đến du lịch nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vận hành, quản lý, tăng cường sáng tạo các sản phẩm du lịch độc đáo, đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới; thúc đẩy xu hướng du lịch hạn chế tiếp xúc thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong phục vụ du lịch; liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ trong sáng tạo và đưa ra các giải pháp công nghệ phục vụ du lịch an toàn; xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn bình thường mới… Thứ trưởng cho rằng thời điểm này, khi tình hình dịch bệnh ở Việt Nam đã và đang dần được kiểm soát nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã sẵn sàng các phương án tái khởi động, phục hồi du lịch nội địa, hướng tới chính thức mở cửa hoàn toàn cho khách quốc tế dự kiến vào giữa năm 2022. “Kịch bản lạc quan về một tương lai sống chung với COVID-19 hoàn toàn có thể xảy ra và khi ấy, nhu cầu du lịch của con người chắc chắn sẽ tăng mạnh. Chính vì thế, du lịch Việt Nam sẽ nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tận dụng mọi cơ hội để phục hồi trong bối cảnh mới, thích ứng an toàn, trở thành điểm đến uy tín và có vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế,” Thứ trưởng Đoàn Văn Việt khẳng định. Clip du lịch Việt Nam phục hồi và phát triển
Cuộc cách mạng công nghệ số đã và đang tác động mạnh mẽ đối với các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch. Xu thế công nghệ đang làm thay đổi các phương thức quản lý, kinh doanh và tiêu dùng du thời đại du lịch thông minh đã và đang thành hình. Đây là sản phẩm du lịch mới, bao gồm các dịch vụ trải nghiệm được tạo ra bằng việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến cung cấp cho du khách.“Ở đâu, khi nào có sự ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào du lịch thì ở đó, khi đó có du lịch thông minh”, ông Phạm Hà, Chủ tịch Lux Group nhận báo cáo Xu hướng du lịch Việt Nam 2021 do Outbox Consulting thực hiện, việc sử dụng công nghệ số trong du lịch đã được thế giới và Việt Nam thực hiện từ nhiều năm nay và được đẩy mạnh hơn bao giờ hết trong bối cảnh của đại dịch Covid-19. Trong năm 2021, công nghệ sẽ là yếu tố hàng đầu giúp du khách có lại tự tin khi đi du thức du lịch trực tuyến, khám phá các điểm đến trên thế giới bằng công nghệ thực tế ảo đã trở nên phổ biến hơn. Trong tương lai, trải nghiệm ảo có thể trở thành một tiêu chuẩn phải có đối với mỗi doanh nghiệp, giúp khách du lịch có cơ hội kết nối với hướng dẫn viên và cảm nhận trải nghiệm trước khi đặt dịch ông Hà, khách du lịch sử dụng internet, các tiện ích và thiết bị thông minh để tìm kiếm thông tin du lịch, tham khảo điểm đến, so sánh và lựa chọn các dịch vụ du lịch hợp lý, thực hiện các giao dịch mua tour, đặt phòng, mua vé máy bay, thanh toán trực tuyến… ngày càng có xu hướng gia tăng. Họ đang trực tiếp trở thành những vị “khách du lịch thông minh” – nhân tố quan trọng của du lịch thông bối cảnh đó, nhân sự trong ngành du lịch cũng không thể đi sau xu thế. Người làm du lịch phải có năng lực công nghệ, có khả năng thích ứng và “thông minh” hơn để phục vụ du khách tăng trải nghiệm và sự thoả mãn. “Covid đến, các doanh nghiệp và người lao động phải thay đổi như bàn cờ xoá đi chơi lại. Ai thích ứng nhanh sẽ trụ được. Không phải cá to nuốt cá bé, mà cá nhanh nuốt cá chậm”, Chủ tịch Lux Group đó, các công ty du lịch và người làm du lịch phải trở thành chuyên gia điểm đến, trải nghiệm phải cá nhân hoá, xây dựng niềm tin bằng kiến thức, dịch vụ 24h, check-in sớm, chọn phòng đẹp, chọn bàn ăn, làm những việc mà expedia hay không làm dụng lao động trong nghành du lịch từ cấp thấp tới cấp cao các lĩnh vực của nghành du lịch, ông Hà cho biết “Chúng tôi cho phép nhân viên làm việc theo ca, truy cập cloud và làm việc bằng phầm mềm. Một số nghề như hướng dẫn viên tuyến điểm sẽ mất đi, nhân sự như hướng dẫn viên phải chuyên sâu về kiến thức từng mảng, từng chủ đề ngoài kỹ năng và thái độ”.Nhiều vấn đề trong đào tạo nhân lựcTheo báo cáo của WEF về xếp hạng năng lực cạnh tranh ngành lữ hành và du lịch 2019, năng lực cạnh tranh Việt Nam tăng bốn bậc từ vị trí 67 năm 2017 lên 63/140 năm 2019. Song, chỉ số sức cạnh tranh về nguồn nhân lực và thị trường lao động vẫn còn thấp, xếp hạng 47/140 đạt 4,8 điểm; sụt giảm so với năm 2017, chỉ xếp trên Lào, Campuchia, Brunei trong các nước giá xếp hạng của WEF phản ánh khá chính xác hạn chế về lao động của du lịch Việt Nam trước bối cảnh công nghệ đang phát triển mạnh Phạm Hà, Chủ tịch Lux GroupTheo ông Hà, mỗi năm toàn ngành du lịch cần thêm gần lao động. Tuy nhiên, lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng người/năm, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Ngoài khoảng cách về số lượng này, khoảng cách về kỹ năng trong lực lượng lao động du lịch hiện nay cũng lớn. Chỉ 42% người lao động được đào tạo chuyên ngành về du lịch, trong khi đó, 38% chuyển từ ngành khác sang và 20% không được đào tạo chính quy. Như vậy, nguồn cung nhân lực du lịch trên toàn quốc được xem là yếu và tịch Lux Group nhận định, còn nhiều vấn đề đối với câu chuyện nhân lực ngành du lịch hiện nay. Một là việc đào tạo còn tập trung quá nhiều vào lý thuyết mà thiếu thực hành, thực nghiệp. Hai là không đào tạo chuẩn theo năng lực như các nước. Ba là thiếu nhân sự cấp cao và nguồn nhân lực có chất lượng. Bốn là lạc hậu và thua luôn sân nhà khi nhân lực ASEAN sẽ có quyền làm việc tại Việt Nam ngoại trừ hướng dẫn viên theo thoả thuận nghề ASEAN. Năm là đầu ra của nhà trường chưa đáp ứng được đầu vào của doanh nghiệp, gây lãng phí nguồn vị doanh nhân này, nhân lực ngành du lịch cần được đào tạo và định hướng phát triển để đáp ứng yêu cầu mới với xu thế phát triển du lịch thông minh, công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo … trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc nghiên cứu để phát triển các ngành nghề và lĩnh vực mới thích ứng với du lịch thông minh thời trở nên cấp gian qua, ngành du lịch Việt Nam đã và đang chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo mục tiêu hội nhập quốc tế. Từ năm 2009, bộ trưởng du lịch các quốc gia ASEAN nhân danh Chính phủ các nước đã ký thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau. Trên cơ sở đó, giáo trình đào tạo nghề chung ASEAN cũng đã được xây dựng, liên kết chặt chẽ với khung trình độ nhiên, chính sách, cơ chế… về phối hợp giữa các chủ thể liên quan đến đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch còn chưa đầy đủ. Quy mô đào tạo chưa đủ lớn, ngành nghề đào tạo chưa đầy đủ, cơ cấu nhân lực theo ngành nghề chuyên môn chưa hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu lớn trong cùng một thời điểm đối với doanh nghiệp du lịch có quy mô phân bổ cơ sở đào tạo du lịch chưa thật sự hợp lý. Tỷ lệ học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp trở về địa phương làm việc còn thấp trong khi khu du lịch mới ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu nhân lực được đào tạo. Cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp vẫn chưa rõ ràng; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể, khả thi khuyến khích các doanh nghiệp thực sự quan tâm phối hợp trong đào tạo nhân lực du độ chính sách đối với lao động ngành du lịch chưa thực sự hợp lý. Tính mùa vụ trong du lịch ảnh hưởng đến tuyển dụng, đến nhu cầu theo học lĩnh vực du lịch. Thiếu hụt nhân lực quản trị cấp caoMột vấn đề khác được ông Hà chỉ ra là du lịch Việt Nam hiện thiếu hụt nhân lực quản trị cấp cao, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu nghỉ dưỡng... Tại các doanh nghiệp, tập đoàn khách sạn lớn hoặc có yếu tố nước ngoài, hầu hết đội ngũ quản lý cấp trung và cấp cao đều là người nước cả nước có hơn 190 cơ sở đào tạo du lịch. Trong đó có 65 trường đại học có các khoa du lịch; 55 trường cao đăng và 71 trường trung cấp. Một số trường đại học, cao đẳng đã đầu tư xây dựng cơ sở thực hành như xưởng, khách sạn... tương đối hiện đại. Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo du lịch tăng về số lượng và từng bước được chuẩn thống kê của Tổng cục du lịch, toàn ngành cần lao động mỗi năm nhưng số lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng Trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Trong 1,3 triệu lao động du lịch của cả nước, chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy. Theo ông Hà, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt có thể thích ứng trong thời đại thông qua việc đào tạo và đào tạo lại chuẩn năng lực bao gồm thái độ, kỹ năng và chuyên môn. Cần khôi phục và phát triển nhân lực du lịch đi kèm các kỹ năng đào tạo và huấn luyện cần thực hiện theo hướng đáp ứng yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Việc thực nghiệp nên theo tỷ lệ 50/50 giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đồng thời, cần kết hợp mô hình ba nhà gồm nhà nước, nhà trường và nhà doanh nghiệp trong công tác đào tạo. Khuyến khích đầu tư công nghệ vào các trang thiết bị giảng dạy và thực hành tại các trường và cơ sở đào tạo nghề du lịch. “Muốn du lịch có chất lượng phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực, có khả năng sử dụng công nghệ và thấu hiểu khách hàng để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Cần thực nghiệp tại doanh nghiệp, và liên kết ba nhà để có nguồn nhân lực có chất lượng, thực chiến và thiện chiến, đảm bảo đầu ra của nhà trường là chuẩn đầu vào của doanh nghiệp”, Chủ tịch Lux Group nói. Là đơn vị chuyên phục vụ đối tượng khách hàng sang trọng, để tạo ra những trải nghiệm chân thực và độc đáo, Lux Group đầu tư cả phần cứng và phần mềm. Phần cứng của những con tầu sang trọng của Lux Group được đầu tư rất đẹp, tinh tế và tỉ mỉ từng chi tiết, mỗi góc nhỏ là một câu chuyện. Còn phần mềm là dịch vụ và nhân sự trên du thuyền được chú trọng để tăng sự thoả mãn và đáng nhớ cho du khách. “Nhân sự trên du thuyền hiểu người chủ thực sự của họ là khách hàng, có thái độ, kiến thức và kỹ năng nâng tầm nghệ thuật. Chúng tôi sử dụng phầm mền quản lý các khâu, từ bán hàng đến vận hành để nhân viên gọi đúng tên khách, các yêu cầu nhỏ nhất được đáp ứng và làm ngạc nhiên du khách trước, trong và sau chuyến đi”, ông Hà nói.
Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi hoàn toàn từ nhận thức, cơ cấu thị trường, hệ thống dịch vụ, sản phẩm… của ngành Du lịch, đòi hỏi phải có những cơ chế, chính sách đủ mạnh thúc đẩy du lịch phát triển phù hợp với tình hình mới. Là ngành đầu tiên bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, Du lịch cũng là một trong những ngành có khả năng phục hồi sớm nhất, tuy nhiên, muốn phục hồi, doanh nghiệp phải tồn tại được trước đã. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiến tạo các sản phẩm mới, dịch vụ mớiTrong những năm gần đây, Du lịch Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng vượt bậc. Năm 2019 đã đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, 85 triệu lượt khách nội địa, doanh thu đạt trên 32 tỉ USD, đóng góp trực tiếp 9,2% GDP và lan tỏa gián tiếp tới gần 18% GDP. Từ năm 2020 đến nay, du lịch toàn cầu chịu tác động nghiêm trọng do đại dịch Covid- 19, Du lịch Việt Nam cũng rơi vào thảm cảnh chưa từng có. Có thể nói chưa bao giờ ngành Du lịch Việt Nam đứng trước khó khăn và thử thách lớn như hiện nay, thiệt hại năm 2020 ước tính đã lên tới 23 tỉ USD, khoảng 40-60% lao động ngành du lịch bị mất việc làm hoặc cắt giảm ngày công; khoảng 95% doanh nghiệp lữ hành quốc tế ngừng hoạt động; nhiều khách sạn phải đóng cửa, công suất sử dụng phòng có thời điểm chỉ đạt từ 10-15%. Sự ngưng trệ của hoạt động du lịch do dịch bệnh đã tác động sâu rộng tới các ngành liên quan và đời sống xã hội, cụ thể và dễ thấy như hàng không, lưu trú, ăn uống. Hệ thống cơ sở lưu trú gặp nhiều khó khăn khi lượng khách giảm do ảnh hưởng Covid-19Một kết quả khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với doanh nghiệp cho thấy, có tới 85,7% số doanh nghiệp trên cả nước bị tác động của dịch Covid-19, trong đó ngành dịch vụ chịu tác động mạnh nhất như hàng không là 100%, dịch vụ lưu trú là 97,1%, dịch vụ ăn uống 95,5%, đại lý du lịch là 95,7%... Qua đại dịch Covid -19, càng thấy rõ vai trò và sức ảnh hưởng mang tính tác động của ngành Du lịch tới nền kinh tế là rất lớn vì là ngành kinh tế tổng hợp. Đến giờ, khi dịch Covid-19 bùng phát ở khắp nơi, nặng nề nhất là đầu tàu kinh tế, du lịch của cả nước thì ảnh hưởng tới ngành càng trầm trọng hơn. Du lịch gần như tê liệt hoàn toàn. Bao nhiêu sức người, sức của đều dồn vào chống nay, trong tình hình thị trường du lịch quốc tế chưa mở trở lại do dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều nước vẫn áp dụng chính sách kiểm soát nhập cảnh nghiêm ngặt, tỉ lệ người tiêm vắc xin còn ít… thì thị trường du lịch nội địa đang trở thành “cứu cánh” của ngành Du lịch Việt Nam. Đòi hỏi, phải có những chính sách tổng thể để lấy lại tốc độ phát triển trước đây trong giai đoạn bình thường mới và để du lịch nội địa thật sự trở thành trụ cột chính của ngành Du lịch. Vietravel Airlines là hãng hàng không lữ hành đầu tiên của Việt NamVới góc độ là một doanh nghiệp kinh doanh hàng không và lữ hành, chúng tôi đề xuất một số giải pháp vĩ mô và các kiến nghị để phát triển ngành Du lịch nói chung và khẳng định vị thế của du lịch nội địa nói tiên, cần nhận thức rõ du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc nội tại, ngành Du lịch cần đánh giá và định vị lại chính sách thị trường du lịch nội địa trong 5 năm tới và chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030, trong đó cần làm rõ vai trò và tầm quan trọng của thị trường khách du lịch trong nước đối với sự phát triển của Du lịch. Rõ ràng, đại dịch Covid- 19 đã tạo ra nhu cầu mới, làm thay đổi hoàn toàn thị trường du lịch trong nước. Chính phủ, Tổng cục Du lịch và các địa phương cần khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiến tạo các sản phẩm mới, dịch vụ mới, phù hợp với xu thế, nhất là sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của gần 100 triệu dân trong nước. Sau dịch sẽ xuất hiện nhiều xu hướng du lịch mớiBên cạnh đó, cần thúc đẩy các kết nối vùng liên kết du lịch; thành lập các Cơ quan quản lý điểm đến để quản lý phát triển sản phẩm, xúc tiến du lịch cho vùng; đẩy mạnh công tác quảng bá trong nước. Quảng bá chung Năm Du lịch quốc gia cho vùng thay vì từng địa phương như hiện nay để tạo hiệu ứng lan tỏa lớn kích cầu cho thị trường nội cơ chế, chính sách riêng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp hàng đầu về lữ hành tại Việt Nam, các doanh nghiệp thương hiệu quốc gia về du lịch được tiếp cận vốn vay ưu đãi, quỹ đất, ưu đãi thuế… Từ đó hình thành và củng cố vai trò của những doanh nghiệp mạnh, đủ tiềm lực đột phá, phát triển; đưa du lịch Việt Nam cạnh tranh với các quốc gia trong khu cần có những cơ chế, chính sách để phát triển gia tăng trải nghiệm, tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách bằng mô hình kinh tế ban đêm, du lịch đêm để tạo thêm những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội nói chung và khách du lịch nói riêng Đánh giá đúng vai trò của thị trường khách du lịch nội địa và tái cấu trúc thị trườngCác chính sách hỗ trợ thúc đẩy du lịch phục hồi và phát triển trở lại cần ban hành nhanh, kịp thời và thực chất để triển khai ngay trong thực tế mới phát huy được hiệu quả. Đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay nếu chưa có văn bản pháp luật quy định hoặc có quy định khác thì cho thực hiện thí tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật là những yếu tố quan trọng để phát triển du lịch, vì thế, Chính phủ cần tiếp tục dành nguồn lực thích hợp từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nhất là tại các địa bàn trọng điểm về du lịch; nâng cao khả năng kết nối giao thông nhiều hình thức tới các khu, điểm du lịch. Bên cạnh đó, đầu tư các điểm dừng, nghỉ trên các tuyến du lịch đường bộ, tăng cường tần suất các đường bay có sẵn; giải quyết các điểm nghẽn tại các cảng hàng không lớn như Hà Nội, TPHCM. Tập trung đầu tư một số cảng biển và cảng thủy nội địa chuyên dùng tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch đường biển và đường sông. Cải thiện hạ tầng và chất lượng dịch vụ đường sắt phục vụ khách du lịch. Cần nâng cao khả năng kết nối giao thông nhiều hình thức tới các khu, điểm du lịchTrước tiên phải cứu doanh nghiệp đãMuốn gì thì gì, các doanh nghiệp phải sống được mới có thể phục hồi và phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Vì thế, theo tôi, Nhà nước cần tạo cơ chế và chính sách môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và cộng đồng trong nước phát triển du lịch. Cho phép các doanh nghiệp trong ngành được khoanh nợ và tái cấu trúc các khoản vay đến hết năm 2021 để các doanh nghiệp phục hồi và tái lập hoạt động sau trợ doanh nghiệp trong ngành chuyển đổi số phù hợp với định hướng cơ cấu mới của thị trường khách du trợ doanh nghiệp khởi nghiệp kinh doanh du lịch, đặc biệt ở những địa phương vùng sâu, vùng xa. Chú trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp du lịch; xử lý nghiêm hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp tham gia kinh doanh và hưởng lợi từ du lịch; có chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng. Nâng cao vai trò của cộng đồng, xây dựng cộng đồng du lịch văn minh, thân thiện trong ứng xử với khách du lịch; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp liên quan đến du lịch. Xây dựng cộng đồng du lịch văn minh, thân thiện trong ứng xử với khách du lịchMọi việc đều bắt đầu từ con người, Nhà nước cần phải có chính sách thu hút đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực du lịch; tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo du lịch về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung, chương trình và đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực phát triển nguồn nhân lực du dạng hóa các hình thức đào tạo du lịch. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch và các lĩnh vực liên quan để tạo điều kiện cho phát triển du lịch; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia trong lĩnh vực du lịch theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển du toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý liên ngành, liên vùng của hoạt động du lịch. Nâng cao năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch. Thành lập Sở du lịch tại các địa phương có điều kiện phát triển du lịch theo nguyên tắc không tăng thêm biên chế. Tập trung xây dựng nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệpĐẩy nhanh hơn việc tiêm vắc xin toàn dân để tạo miễn dịch cộng đồng, mở cửa du lịch quốc tế trở lại. Xây dựng các quỹ tài chính hỗ trợ cho ngành Du lịch dưới hình thức hỗ trợ trực tiếp cho khách trong năm 2021. Điều này sẽ giúp khuyến khích và tác động kích cầu được 1 lượng khách rất lớn đi du lịch trong nước, giúp hệ thống người lao động dịch vụ phía sau có được việc làm, các doanh nghiệp duy trì được hoạt động và đội ngũ nhân sự. Gia hạn thời gian nộp thuế đến cuối năm 2021 đối với thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Khó khăn lớn nhất hiện nay đối với các doanh nghiệp du lịch là thiếu vốn để tái lập hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, doanh nghiệp muốn vay tiền từ ngân hàng phải có tài sản thế chấp, trong khi doanh nghiệp du lịch lữ hành chỉ có uy tín và thương hiệu - những thứ mà không ngân hàng nào nhận thế chấp. Vì thế, cần có cơ chế mới để doanh nghiệp tiếp cận vốn vay khả thi, được vay tín cạnh các chính sách hỗ trợ về thuế, thị thực nhập cảnh, giá điện... cần chính sách đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương tạo điều kiện cho người dân đi du lịch như kéo dài một số kỳ nghỉ lễ, miễn giảm các khoản thu phí tham quan, tăng cường truyền thông quảng bá, xúc tiến du lịch trong nước. Ngành Du lịch cũng cần đẩy nhanh hơn việc chuyển đổi số trong phát triển du lịch, xây dựng nền tảng số dùng chung cho toàn ngành và toàn xã hội. Trong đó, số hóa toàn bộ hệ thống ngành nghề bổ trợ du lịch từ dịch vụ vận chuyển đến lưu trú, ăn uống, điểm tham quan, di sản, kể cả cổ vật trong bảo tàng để thành tài nguyên chung để phục vụ phát triển du Văn hóa, NGUYỄN QUỐC KỲ, Chủ tịch HĐQT, Công ty Du lịch Vietravel
Việc đóng cửa biên giới quốc tế và tạm dừng các chuyến bay thẳng giữa Việt Nam và Australia đã ảnh hưởng tiêu cực đến các công ty khai thác du lịch của cả hai nước. Du lịch nội địa chỉ bù đắp được phần nào sự giảm sút du lịch ở cả hai nước. Thương mại Việt Nam là một thị trường du lịch đang phát triển tại Australia với ngành du lịch giải trí trị giá 231 triệu đô la Úc vào năm 2018 ở mức cao điểm. Con số này hạ xuống mức 200 triệu đô la Úc vào năm 2019, và còn giảm sâu hơn nữa bởi tác động của đại dịch vào năm 202048. Hơn công dân Việt Nam đã đến Australia trong năm 201949. Australia là một thị trường quan trọng đối với du lịch Việt Nam, bởi vì khách du lịch Australia có thời gian lưu trú tương đối dài hơn và chi tiêu cao hơn. Năm 2019, du lịch giải trí của Australia tới Việt Nam có giá trị là 1,2 tỷ đô la Úc50. Điều này cho thấy sức hút của Việt Nam trong mắt du khách Australia, đã có hơn 317,000 du khách Australia đến Việt Nam trong năm 201951. Việt Nam có hình ảnh đẹp trong mắt du khách Australia. Thu hút bởi văn hóa, ẩm thực và cảnh quan thiên nhiên, số lượng khách du lịch Australia ngày càng tang trước đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy kế hoạch mở các đường bay thẳng, với việc hãng hàng không VietJet và Bamboo Airways công bố kế hoạch bổ sung các đường bay thẳng từ Thành phố Hồ Chí Minh tới các thành phố lớn của Australia. Đầu tư Nằm trong khu vực phát triển du lịch mạnh mẽ nhất thế giới và là thị trường hàng không quốc tế lớn nhất, Australia mang đến một môi trường an toàn và ổn định cho các nhà đầu tư du lịch. Các nhà đầu tư Việt Nam vẫn quan tâm đến cơ sở hạ tầng du lịch và ngành du lịch của Australia. Những cơ hội trong tương lai Chính phủ Việt Nam và Australia mong muốn mở lại biên giới quốc tế và nối lại du lịch quốc tế khi điều kiện an toàn cho phép. Mối liên kết mạnh mẽ giữa người dân hai nước có tiềm năng rất lớn. Ngành du lịch Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng trong các lĩnh vực cụ thể, các lĩnh vực như du lịch sinh thái có thể tận dụng chuyên môn của Australia để có thể phát triển theo cách gìn giữ vẻ đẹp thiên nhiên đất nước đồng thời tăng cường phát triển kinh tế xã hội. Có cơ hội để tăng cường đào tạo kỹ năng dịch vụ du lịch và lữ hành nhằm đảm bảo lượng khách quay trở lại. Các nhà cung cấp giáo dục nghề của Australia có vị thế tốt để hỗ trợ đào tạo và cung cấp chứng chỉ chuyên môn cho ngành du lịch và lữ hành của Việt Nam. Ngành du lịch Ghi nhận rằng ngành du lịch quốc tế là một trong những lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi COVID-19. Australia và Việt Nam nhận thấy ngành du lịch của hai nước sẽ phải đối mặt với những thách thức chuyển đổi và cơ cấu hậu COVID-19 như một hệ quả của sự thay đổi lâu dài trên toàn cầu đối với ngành du lịch và lữ hành. Xem kế hoạch thực hiện
phát triển ngành du lịch cho phép